"Bộ luật Lao động 2012: Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện"

Cập nhật lúc: 25-11-2013 16:05:58

Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể để Bộ luật LĐ 2012 đi vào cuộc sống

Các quy định về HĐLĐ; tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; thương lượng và TƯLĐTT… trong Bộ luật LĐ 2012 là những nội dung nhận được nhiều ý kiến của CB CĐ và chuyên gia. Vì các quy định này cũng mới chỉ đáp ứng được một phần yêu cầu của thực tiễn đòi hỏi nên băn khoăn lớn nhất vẫn là việc tổ chức thực hiện, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật LĐ của các cơ quan Chính phủ và trách nhiệm thực thi pháp luật của các bên trong quan hệ LĐ.
 
Sáng 15.11, tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính, Báo Lao động tổ chức Hội thảo “Bộ luật Lao Động 2012: Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện nghiên cứu, hoàn thiện”. Hội thảo được sự hỗ trợ của Quỹ hỗ trợ sáng kiến tư pháp (JIFF) và hỗ trợ về chuyên môn của phòng Pháp luật Ban Chính sách - Pháp luật Tổng LĐLĐVN. Tham dự có đại diện Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, đại diện Bộ LĐTBXH, lãnh đạo LĐLĐ các tỉnh, TP phía bắc, CB CĐ làm công tác tư vấn pháp luật; chuyên gia và giảng viên về lĩnh vực pháp luật LĐ…
 
Theo ông Nguyễn Duy Vy - Phó trưởng ban Chính sách - Pháp luật Tổng LĐLĐVN - đến nay đã có 11 NĐ có liên quan đến Bộ luật LĐ được ban hành (theo kế hoạch là 20 NĐ) để giải quyết 58 vấn đề, song hiện cần những văn bản hướng dẫn thực hiện một cách chi tiết về: Trình tự đại diện tập thể NLĐ của CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở trong ký kết TƯLĐTT; nền lương để đóng BHXH, tuổi nghỉ hưu…
 
Một trong những nội dung được ông Vy nhấn mạnh là trách nhiệm của chủ thể lãnh đạo tổ chức đình công. Thực tế cho thấy, CĐCS khu vực kinh tế ngoài Nhà nước rất khó thực hiện vai trò, trách nhiệm đại diện cho quyền lợi hợp pháp, chính đáng của NLĐ. Bởi, thu nhập và quyền lợi của chủ tịch CĐCS ở đây phụ thuộc chủ sử dụng LĐ, nên khi xảy ra mâu thuẫn trong quan hệ LĐ, CB CĐCS sẽ khó thẳng thắn bảo vệ NLĐ; công việc của CĐCS nhiều nhưng CB CĐ chỉ kiêm nhiệm, dù thời gian làm hoạt động đã được nới rộng theo quy định mới nhưng vẫn không đủ; nhiều chủ sử dụng LĐ gây khó khăn cho hoạt động CĐ trong khi các biện pháp bảo vệ CB CĐ còn thấp; năng lực, trình độ, trách nhiệm của CB CĐ còn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế…
 
Điều này cho thấy quy định hiện nay đã dẫn đến nghịch lý: Công việc khó khăn nhất đang được đặt lên vai nơi thiếu nhiều điều kiện nhất để thực hiện. Sau khi phân tích những điểm trên, ông Vy đặt câu hỏi: Vậy, đối với quy định về đình công có nên tiếp tục giao gánh nặng cho CĐCS hay không. Gần 20 năm thực hiện LLĐ, qua 4 lần sửa đổi, chưa có cuộc đình công nào do CĐCS lãnh đạo.
 
Phạm vi điều chỉnh còn… hạn chế
 
Tại hội thảo, ông Lê Đình Quảng - Phó phòng Pháp luật (Ban Chính sách - Pháp luật TLĐ) - cho biết, ngay trước khi đến hội thảo, có một nữ LĐ tại Tuyên Quang gọi điện cho ông nhờ giúp đỡ. Trong thời gian nữ LĐ này nghỉ thai sản, DN đã cử người khác làm thay. Hết thời gian nghỉ thai sản, chị “được” DN phân công làm ở bộ phận khác không phù hợp chuyên môn. Điều này cho thấy rất cần sớm có văn bản hướng dẫn chung cho chương về LĐ nữ trong Bộ luật LĐ 2012.
 
Ông Quảng cũng cho biết, mặc dù NĐ số 44/2013/NĐ-CP có tên là NĐ “quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật LĐ về HĐLĐ”, song phạm vi điều chỉnh của nghị định chỉ bao gồm: Việc tham gia BHXH, BHYT của NLĐ khi giao kết HĐLĐ với nhiều NSDLĐ; nội dung của HĐLĐ đối với NLĐ được thuê làm giám đốc trong DN có vốn của Nhà nước; trình tự, thủ tục thanh tra LĐ tuyên bố HĐLĐ vô hiệu và xử lý HĐLĐ vô hiệu.
 
Với phạm vi điều chỉnh như vậy, có thể khẳng định rằng chưa thể giải quyết hết các vấn đề cần quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể về HĐLĐ mà thực tiễn đang đặt ra. Một trong những vướng mắc ở phần này được ông Quảng chỉ ra chính là quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ. Điểm d khoản 1 Điều 37 Bộ luật LĐ quy định NLĐ làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn trong những trường hợp: “Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện HĐLĐ”.
 
Tuy nhiên, Bộ luật LĐ không quy định cụ thể trường hợp nào, lý do gì thì được coi là bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện HĐLĐ. Do đó, đề nghị hướng dẫn rõ vấn đề này theo tinh thần quy định tại NĐ 44/2003/NĐ-CP ngày 9.5.2003: “Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với những lý do sau đây: a. Chuyển chỗ ở thường trú đến nơi khác, đi lại làm việc gặp nhiều khó khăn; b. Được phép ra ngoài định cư; c. Bản thân phải nghỉ việc để chăm sóc vợ (chồng); bố mẹ, kể cả bố, mẹ vợ (chồng) hoặc con bị ốm đau từ 3 tháng trở lên; d. Gia đình có hoàn cảnh khó khăn khác được chính quyền cấp xã nơi cư trú xác nhận không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động”.

Lương tối thiểu thời điểm tháng 8.2013: Chỉ đạt 76,24% nhu cầu sống tối thiểu
 
Ông Lê Xuân Thành - Phó vụ trưởng Vụ LĐ-Tiền lương (Bộ LĐTBXH) - khẳng định cần thiết phải quy định rõ các tiêu chí cụ thể để điều chỉnh mức lương tối thiểu; phân vùng tiền lương tối thiểu. Đối với cơ chế thỏa thuận tiền lương hiện thiếu thông tin từ phía DN; thiếu dữ liệu thông tin thị trường LĐ, thông tin về tiền lương của các nghề, công việc thuộc các các ngành, các lĩnh vực để NLĐ tham khảo.
 
Chính sách tiền lương hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập. Theo đó, mức lương tối thiểu còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu. Lấy ví dụ, mức lương tối thiểu vùng I đang áp dụng là 2.350.000đồng/tháng, tương ứng với 112USD (1USD = 21.036đồng). Như vậy mức lương tối thiếu tại thời điểm tháng 8.2013 đạt được 76,24% nhu cầu sống tối thiểu. Dự kiến năm 2014 mức lương tối thiểu vùng 1 là 2.700.000đồng/tháng, thì đáp ứng 87,3% nhu cầu sống tối thiểu. Ban Công đoàn
 
* Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Mai Đức Chính: Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nhiều DN đang gặp khó khăn trong hoạt động SXKD, do đó nếu áp dụng ngay quy định tiền lương tối thiểu đảm bảo mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ theo Điều 91 của BLLĐ năm 2012 thì tôi chắc chắn rằng các DN sẽ gặp khó khăn hơn nữa.
 
Theo kết luận 23 của Hội nghị T.Ư 5, thì năm 2015 sẽ thực hiện quy định trên, nhưng trước tình hình khó khăn như hiện nay, tôi cho rằng Chính phủ sẽ dãn thời gian thực hiện, nhưng dãn đến thời điểm nào năm 2016, hay 2017, hoặc như đại diện giới chủ đề nghị dãn tới 2020 thì chúng ta cần có điều chỉnh. Riêng vấn đề tiền lương tối thiểu chúng ta cần xây dựng tiêu chí và có lộ trình.
 
Hiện nay Luật CĐ 2012 cũng như BLLĐ 2012 quy định, CĐ có chức năng tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện quyền lợi hợp pháp chính đáng của NLĐ tại các DN… Ở các DN khi xây dựng thang bảng lương và quy chế trả lương cho NLĐ cần phải có sự đồng ý của BCH CĐ. Do dó, các CBCĐ ở cơ sở cần phải nâng cao năng lực để đáp ứng được yêu cầu khi tham gia vào quá trình xây dựng thang bảng lương, quy chế trả lương và giám sát quá trình đó.

* Phó Ban Chính sách - Pháp luật CĐ Công thương VN Lê Thị Tâm: Theo tôi BLLĐ 2012 còn một số điểm bất lợi cho NLĐ và tổ chức CĐ, ví dụ như vấn đề cho thuê lại LĐ: NLĐ đi làm cho Cty B nhưng vẫn phải giữ quan hệ LĐ và HĐLĐ với Cty A. Vậy nếu quyền lợi của NLĐ tại Cty B không được đảm bảo, thì Cty nào là bên bảo vệ quyền lợi cho NLĐ. Vì tổ chức CĐ ở Cty A không sang Cty B bảo vệ cho NLĐ được.
 
Còn tổ chức CĐ ở Cty B thì chỉ là thuê lại NLĐ - không có quan lệ LĐ với NLĐ - nên CĐ không có quyền can thiệp. Điều này đang xảy ra tại một DN của ngành công thương… Do đó, để quyền lợi của NLĐ được đảm bảo, hoạt động của tổ chức CĐ hiệu quả hơn thì cần phải có Nghị định chung hướng dẫn, tháo gỡ những bất cập trong các điều của BLLĐ.
 
* Chủ tịch CĐ các KCN-CX Hà Nội Đinh Quốc Toản: BLLĐ đã được thực hiện, nhưng vẫn chưa có Nghị định hoặc thông tư hướng dẫn về Chương An toàn lao động - vệ sinh lao động nên các DN vẫn áp dụng theo quy định cũ. Do đó, Chính phủ cần sớm ban hành NĐ, Bộ LĐTBXH và các bộ ngành có liên quan sớm ban hành thông tư hướng dẫn. Trong đó, nêu rõ chi tiết các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và xác định mức bồi dưỡng cho CNLĐ làm các công việc này.
 
Liên quan đến vấn đề BHXH, BLLĐ đã có hiệu lực thi hành từ 1.5.2013, nhưng cho tới nay Luật BHXH vẫn là luật cũ, tuy BHXH VN đã có hướng dẫn 1477, ngày 23.4.2013, nhưng chưa có quy định rõ đối với nữ CNLĐ sinh đôi trở lên… Do đó, đề nghị Quốc hội sớm thông qua Luật BHXH sửa đổi, bổ sung; đồng thời Chính phủ cần sớm ban hành kèm theo Nghị định, các bộ ngành có liên quan sớm ban hành thông tư hướng dẫn.
 


Warning: file_put_contents(./log/1574351013_9964_151.html) [function.file-put-contents]: failed to open stream: No such file or directory in /home/nhquasp4/cird.gov.vn/footer.php on line 91