Giải quyết tranh chấp lao động, đình công

Cập nhật lúc: 10-08-2015 04:24:44

Giải quyết tranh chấp lao động được quy định trong pháp luật lao động của hầu hết các nước trên thế giới. Song, do có sự khác nhau về các đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội và mục tiêu giải quyết của từng nước mà việc xác định các nguyên tắc, phương thức giải quyết và mức độ can thiệp của Nhà nước trong cơ chế giải quyết tranh chấp lao động ở các nước là khác nhau. Bài viết giới thiệu một số nguyên tắc, phương thức và các cơ chế thiết chế giải quyết tranh chấp lao động và đình công.

Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động

Giải quyết tranh chấp lao động, nhất là tranh chấp lao động tập thể không chỉ giúp các bên dàn xếp được mâu thuẫn trực tiếp giữa các bên tranh chấp,  thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định mà còn góp phần ổn định xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Để đạt mục tiêu đó, việc giải quyết tranh chấp lao động nhất thiết phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc 1: Giải quyết tranh chấp lao động phải dựa trên lợi ích thực sự của mỗi bên

Nguyên tắc 2: Tôn trọng và ưu tiên tối đa quyền tự quyết của mỗi bên tranh chấp. Luật pháp Việt Nam quy định các nguyên tắc cơ bản của giải quyết tranh chấp lao động tập thể, trong đó đề cao được nguyên tắc thương lượng và tự dàn xếp là nguyên tắc đầu tiên cho việc giải quyết tranh chấp (Điều 124, Bộ luật Lao động).

Nguyên tắc 3: Tiến trình giải quyết tranh chấp lao động phải đúng trình tự và thủ tục pháp luật quy định

Nguyên tắc 4: Giải quyết tranh chấp lao động phải gắn với những biện pháp nhằm ổn định và củng cố quan hệ lao động hài hòa sau tranh chấp

Các phương thức giải quyết TCLĐ

Phương thức giải quyết tranh chấp lao động tập thể rất phong phú, đa dạng. Dưới đây là một số phương thức giải quyết tranh chấp lao động tập thể thông dụng trên thế giới.

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp mà các bên tranh chấp đối thoại với nhau một cách trực tiếp nhằm đạt được thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp. Trong thực tế, đây chính là phương thức giải quyết được sử dụng rộng rãi nhất.

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba nhưng bên thứ ba không đưa ra phán quyết mà chỉ hỗ trợ các bên về kỹ thuật, về thông tin và kiểm soát quá trình thương lượng của các bên. Ưu điểm lớn nhất của phương thức này là tôn trọng tuyệt đối quyền tự quyết của các bên, tạo thói quen thương lượng trong giải quyết tranh chấp. Giải pháp chung cho vấn đề tranh chấp là thành quả sáng tạo do các bên tranh chấp tự tìm ra và cùng thống nhất thực hiện với sự hỗ trợ của bên thứ ba. Hòa giải không phải là tiến trình phân xử, đó là quá trình phân tích và ứng xử. Kết quả của tiến trình hòa giải thường là một giải pháp hợp tình, hợp lý. Do đó, để hòa giải thành công thì người hòa giải cần có sự tôn trọng, tin tưởng và chấp nhận của các bên tranh chấp.

Trọng tài  là phương thức giải quyết tranh chấp lao động thông qua sự phân tích và phán xử của bên thứ ba. Sau tiến trình phân tích, bên thứ ba đưa ra phương án và phán quyết để các bên phải thực hiện. Trọng tài là tiến trình phân xử dựa trên luật lệ và lý lẽ nhiều hơn là quá trình ứng xử và giao tiếp giữa các bên tranh chấp. Vì vậy, phương án giải quyết của trọng tài là phương án hợp pháp và hợp lý hơn là hợp tình.Tùy thuộc vào quy định luật pháp các nước và/hoặc thỏa thuận giữa các bên, phán quyết trọng tài có thể có giá trị bắt buộc hay không. Song, ngay cả khi phán quyết trọng tài có giá trị bắt buộc thì cũng không có chế tài để các bên phải thực hiện. Do đó, nếu các bên không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì tiếp theo thường là một tiến trình tư pháp hoặc đình công, đóng cửa nhà máy.

Quyết định hành chính là phương thức giải quyết tranh chấp lao động mà cơ quan nhà nước dựa vào các quy định và dựa vào các điều kiện thực tiễn để đưa ra quy định về vấn đề tranh chấp. Phương pháp này có ưu điểm là nhanh và kịp thời. Song, do không phát huy được quyền tự quyết của các bên nên ở nhiều nước phương thức này thường chỉ giới hạn khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến trật tự và lợi ích công cộng.

Xét xử là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó tòa án sẽ ra một bản án hoặc quyết định để giải quyết vụ việc. Pháp luật các nước thường chỉ trao cho tòa án thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền. Trong quan hệ lao động, các nước ít khi sử dụng tòa án mà thường thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp.

Giải quyết tranh chấp lao động và đình công ở một số nước

Philippin

Năm 1953, khi Luật Hòa bình trong quan hệ lao động được thông qua, thương lượng cấp phân xưởng đơn vị hoặc doanh nghiệp đơn lẻ chiếm ưu thế và cơ chế trọng tài giải quyết khiếu nại bắt đầu phát triển. Luật  này thể  hiện một sự  thay đổi căn bản trong chính sách quan hệ lao động của Philippin, nhằm mục tiêu phát triển thương lượng tập thể và cắt giảm một cách mạnh mẽ  sự  chi phối của trọng tài bắt buộc. Điều 16 của Luật quy định: Các bên tham gia thương lượng tập thể đàm phán các điều khoản đảm bảo sự tuân thủ lẫn nhau, các quy định đã được thỏa thuận; thành lập một cơ chế giải quyết khiếu nại bao gồm bất cứ vướng mắc nào có thể nảy sinh từ việc áp dụng hoặc diễn giải thỏa ước hoặc phát sinh từ mối quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Quy định này dẫn đến việc có nhiều thỏa ước tập thể  quy định thủ tục khiếu nại. Trong đó, trọng tài là  bước cuối cùng và  hoạt động dưới một mệnh đề: “không đình công, không bế xưởng”. Tuy nhiên, thực tiễn lại không được áp dụng rộng rãi như chính sách pháp luật quy định, vẫn có những trường hợp đình công xảy ra trong khi khiếu nại tranh chấp hoặc trong trường hợp các dịch vụ hòa giải của Chính phủ đã can thiệp. Bộ luật Lao động ban hành năm 1974 đã đưa ra một sửa đổi quan trọng trong chính sách liên quan đến giải quyết khiếu nại. Bộ luật bắt buộc các bên tham gia phải quy định trong thỏa ước tập thể

việc thành lập một cơ chế giải quyết khiếu nại. Tất cả những khiếu nại tranh chấp mà không qua thủ tục khiếu nại đã thỏa thuận sẽ được giải quyết thông qua “thủ tục trọng tài tự nguyện theo quy định” trong thỏa ước tập thể. Với mục đích này, mọi thỏa ước tập thể phải chỉ định trước một trọng tài viên hoặc danh sách trọng tài viên hoặc có một quy định về việc lựa chọn trọng tài viên hoặc danh sách trọng tài viên.

Bỉ

Thủ tục hòa giải ở Bỉ là kết quả của cơ chế thương lượng và phát triển dựa trên nền tảng là các tổ chức liên kết của người sử dụng lao động và người lao động. Việc lựa chọn thủ tục hòa giải do các bên tự nguyện trên cơ sở đàm phán, thương lượng ghi trong thỏa ước lao động tập thể. Đạo luật về Thỏa ước lao động tập thể ngành và các hội đồng đã trải qua quá trình thay đổi và hoàn thiện. Đến năm 1968, Đạo luật đã  quy định nghĩa vụ của hội đồng liên kết (hoặc tiểu hội đồng và tương đương) trong việc soạn thảo thỏa ước lao động tập thể và ngăn ngừa (hoặc thực hiện hòa giải) tranh chấp lao động. Đạo luật quy định nghĩa vụ của một hội đồng liên kết hoặc tiểu hội đồng và tương đương là: (i) tham gia soạn thảo thỏa ước tập thể; (ii) ngăn ngừa hoặc thực hiện hòa giải tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động. Các hội đồng liên kết có thể được Chính phủ thành lập hoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động hoặc người sử dụng lao động. Theo yêu cầu của hội đồng, Chính phủ cũng có thể thành lập một hoặc nhiều tiểu hội đồng

Một hội đồng có số thành viên đại diện cho người sử dụng lao động và người lao động bằng nhau, cùng với đó là một chủ tịch và một phó chủ tịch và từ hai thư ký trở lên. Những thành viên là đại diện của người sử dụng lao động và người lao động được Chính phủ chỉ định từ những ứng viên được các tổ chức đại diện đề cử. Chủ tịch và phó chủ tịch được Chính phủ chỉ định từ những cá nhân có năng lực trong công tác xã hội. Thông thường, họ được chọn từ Bộ Lao động hoặc họ là những cán bộ quản lý cấp cao của Chính quyền trung ương. Các thư ký do Bộ Lao động quy định. Chỉ những thành viên là đại diện cho người sử dụng lao động và người lao động mới được quyền bỏ phiếu. Tất cả mọi quyết định thường được thông qua khi các thành viên có mặt tán thành. Mỗi hội đồng hoặc tiểu hội đồng đều tự ban hành những quy định riêng.

Hai loại hình tổ chức trên (hội đồng hoặc tiểu hội đồng) phát triển tùy vào cách thực hiện chức năng hòa giải của hội đồng liên kết: Một là hội đồng có quy mô nhỏ với thành phần là một số thành viên của hội đồng liên kết; Hai là một phòng hòa giải thường trực gồm có các thành viên đại diện người sử dụng lao động và người lao động, còn có chủ tịch và một thư ký của hội đồng. Nhìn chung, thỏa thuận như vậy được quy định trong thỏa ước tập thể hoặc theo quy định riêng của hội đồng.

Canada

Việc giải quyết tranh chấp lao động nảy sinh từ diễn giải và áp dụng thỏa ước tập thể thuộc thẩm quyền của hệ thống trọng tài bắt buộc tư nhân. Chính sách này đầu tiên được quy định trong Quy định về quan hệ lao động thời chiến năm 1944. Chính sách này sau đó có một số thay đổi nhỏ, được quy định trong Luật Quan hệ lao động và Điều tra Tranh chấp lao động năm 1948. Chương V của Bộ luật Lao động Canada hiện hành yêu cầu mọi thỏa ước tập thể phải bao gồm một điều khoản về việc giải quyết dứt điểm tranh chấp lao động mà không được ngừng việc bởi cơ chế trọng tài, hoặc nếu không thì điều khoản này phải quy định tất cả những sự khác biệt “liên quan đến việc diễn giải, áp dụng, quản lý hoặc hành vi bị cho là vi phạm thỏa ước đó”. Trường hợp một thỏa ước tập thể không có điều khoản như trên, Ủy ban Quan hệ lao động Canada sẽ có quyền dựa trên yêu cầu của một trong hai bên để đưa ra một điều khoản về việc giải quyết dứt điểm tranh chấp. Điều khoản này được coi là một quy định của thỏa ước (Điều 155).

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam

(BLLĐ 2012, Điều 194)

1. Tôn trọng, bảo đảm để các bên tự thương lượng, quyết định trong giải quyết tranh chấp lao động.

2. Bảo đảm thực hiện hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật.

3. Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật.

4. Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

5. Việc giải quyết tranh chấp lao động trước hết phải được hai bên trực tiếp thương lượng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của hai bên tranh chấp, ổn định sản xuất, kinh doanh, đảm bảo trật tự và an toàn xã hội.

6. Việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thầm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi một trong hai bên có đơn yêu cầu do một trong hai bên từ chối thương lượng, thương lượng nhưng không thành hoặc thương lượng thành nhưng một trong hai bên không chịu thực hiện.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại Việt nam

(BLLĐ 2012, Điều 203)

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền bao gồm:

a) Hòa giải viên lao động;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân  dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện);

c) Tòa án nhân dân.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:

a) Hòa giải viên lao động;

b) Hội đồng trọng tại lao động.


Warning: file_put_contents(./log/1566513698_2846_727.html) [function.file-put-contents]: failed to open stream: No such file or directory in /home/nhquasp4/cird.gov.vn/footer.php on line 91