Chính sách nâng cao đời sống cho NLĐ trong KCN - KKT góp phần xây dựng QHLĐ hài hòa

Cập nhật lúc: 02-07-2015 14:52:47

Xây dựng khu công nghiệp - khu kinh tế (gọi tắt là KCN) là bước đi tất yếu trong tiến trình CNH, HĐH đất nước. Các KCN đã và đang góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, lao động ngoại tỉnh, đặc biệt là lao động từ nông thôn.

Lao động tại khu vực này đang đóng góp tích cực cho nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, trong khi thu nhập còn thấp, việc làm không ổn định, NLĐ còn gặp nhiều khó khăn về đời sống và sinh hoạt, ảnh hưởng đến năng suất lao động và sản xuất.

Các cuộc đình công là biểu hiện cho QHLĐ bất ổn và là hệ quả của những khó khăn mà NLĐ trong các KCN đang gặp phải.

NLĐ gặp khó khăn về nhà ở: Chỉ có 20% số NLĐ có chỗ ở ổn định do các DN, chính quyền và các tổ chức đoàn thể đầu tư xây dựng. Còn 80% số NLĐ ngoại tỉnh phải thuê nhà trọ tư nhân, diện tích sử dụng bình quân từ 2-3m2/người, không đảm bảo những điều kiện tối thiểu về vệ sinh, điện, nước và các dịch vụ khác. (Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội, 2013)

Văn hóa đời sống NLĐ còn nghèo nàn: NLĐ thường xuyên tăng ca không có thời gian để giải trí và cập nhật thông tin. Cơ sở hạ tầng văn hóa xã hội chưa được hình thành trong các KCN như: trạm xá, nhà văn hóa, câu lạc bộ, các loại hình vui chơi giải trí và rèn luyện thể thao. (Nghiên cứu của VGCL cho thấy loại hình giải trí của NLĐ chủ yếu là xem ti vi và nghe nhạc, khoảng 48%)

Thiếu chỗ gửi trẻ cho con NLĐ: 70 – 90% lao động nữ tại các KCN trong độ tuổi sinh đẻ, nhu cầu về nhà trẻ để gửi con đối với NLĐ là rất lớn. Tuy nhiên, mới chỉ có 3.1% DN tổ chức được nhà trẻ, mẫu giáo. Mặt khác, NLĐ khó tiếp cận với việc gửi trẻ trong các trường công lập chi phí rẻ. Vì vậy, họ phải gửi con trong các nhóm trẻ gia đình quy mô nhỏ không đảm bảo về mặt chất lượng. Trên thực tế, rất nhiều vụ bạo hành con NLĐ diễn ra ở những nhóm trẻ gia đình… (Tổng LĐLĐVN)

Chính sách chăm lo đời sống cho NLĐ trong các KCN

Các chính sách và biện pháp chăm lo đời sống cho NLĐ trong các KCN ở nước ta khá đa dạng, xuất phát từ nhu cầu và khó khăn của NLĐ. Điển hình là các chính sách về nhà ở, nhà trẻ mẫu giáo, chính sách chăm lo đời sống văn hóa và nhiều biện pháp hỗ trợ đời sống NLĐ khác…

Chính sách hỗ trợ nhà ở cho NLĐ tại các KCN

Chính sách hỗ trợ nhà ở cho NLĐ tại các KCN được đề cập trong Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở. Theo đó, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng “nhà ở xã hội”  cho NLĐ với nhiều ưu đãi như: không tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; chính sách ưu đãi về thuế; ưu đãi về lãi suất vốn vay; và các chính sách tạo điều kiện và ưu đãi khác như: giá cho thuê, giá thuê mua được tính trên nguyên tắc bảo toàn vốn đầu tư xây dựng…

Hiện nay nhà ở cho NLĐ trong các KCN đang tồn tại dưới 3 hình thức chính:

Nhà ở do Nhà nước xây dựng: Đây là loại hình nhà ở có chất lượng cao nhất trong tất cả các loại hình nhà ở dành cho NLĐ trong các KCN được xây dựng theo tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành. Tuy nhiên, loại nhà này chỉ chiếm khoảng 1% trong tổng số nhà ở cho NLĐ thuê và chỉ được thực hiện ở một số địa phương tập trung các KCN lớn như Tp.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội…

Nhà ở do các DN xây dựng: Đây là loại nhà ở xây dựng trên diện tích đất tại các KCN. Nhà nước khuyến khích việc xây dựng thông qua các chính sách ưu đãi. Chất lượng nhà ở của loại hình này cũng khá tốt; cơ bản đảm bảo được chất lượng cuộc sống của NLĐ, tuy nhiên các công trình hạ tầng xã hội đi kèm còn kém do vậy chất lượng cuộc sống còn nhiều bất cập. Việc đáp ứng nhu cầu nhà ở của NLĐ còn hạn chế và chưa đồng đều ở các địa phương. Loại hình này cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng dưới 20% nhu cầu nhà ở cho NLĐ.

Nhà ở do các hộ dân xây dựng: Hiện nay, loại nhà này phổ biến ở hầu hết các KCN trên cả nước. Loại nhà này do người dân tự phát xây dựng theo xu hướng phát triển các KCN và đáp ứng nhu cầu về nhà ở, phù hợp với mức thu nhập của NLĐ. Tuy nhiên, chất lượng các khu nhà loại này đều có chất lượng rất kém. Hầu hết đó là những căn nhà mái tôn, giấy dầu, tường gạch, nền lát gạch hoặc láng xi măng, không có công trình phụ khép kín, phần lớn là hệ thống nhà vệ sinh chung bất tiện, nhất là đối với phụ nữ.

Chính sách nhà trẻ, mẫu giáo cho con NLĐ

Chính sách về nhà trẻ mẫu giáo ở nước ta bắt nguồn từ quy định trong Luật Giáo dục và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, theo đó mọi trẻ em có quyền được học tập…; cụ thể tại các văn bản: Nghị đinh 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010; Nghị định 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013; Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg ngày 24/1/2013; Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 9/2/2010…Theo quy định, con CNLĐ tại các KCN được hỗ trợ tiền ăn, một phần chi phí gửi trẻ.

BLLĐ 2012, tại khoản 6 Điều 153 quy định “Nhà nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ”  và khoản 4 Điều 154 quy định “Người sử dụng lao động giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phân chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ”  

Các loại hình nhà trẻ, mẫu giáo gồm có:

Nhà trẻ, mẫu giáo do Nhà nước xây dựng: Hiện nay cả nước có khoảng 13.700 trường mầm non đón nhận trẻ vào học. Đạt tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước tuy nhiên đa phần con của NLĐ nhập cư khó gửi con đến loại hình này vì lý do không có hộ khẩu.

Xây dựng nhà trẻ ngay tại DN: Theo đánh giá loại hình này rất hiệu quả, có chất lượng cao, bởi vì nó được xây dựng nhằm phục vụ cho chính LĐ trong DN, giúp cho NLĐ trong DN yên tâm làm việc, nâng cao năng suất cho DN. Tuy nhiên, theo TLĐLĐVN, loại hình này mới chỉ đáp ứng chưa đến 1% nhu cầu lao động trong DN.

Các trường mầm non tư thục, dân lập: Đây là loại hình phổ biến nhất, được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết của NLĐ. Tuy nhiên theo đánh giá, các nhà trẻ mẫu giáo ở các KCN hiện nay chưa đạt tiêu chuẩn theo Điều lệ trường mầm non.

Ngoài ra, vẫn còn nhiều NLĐ phải gửi con về quê cho ông bà hoặc người thân chăm sóc.

Chính sách chăm lo đời sống văn hóa cho NLĐ

Nhằm cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của NLĐ tại các KCN, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1780/QĐ-TTG ngày 12/11/2011 về việc phê duyệt Đề án “xây dựng đời sống văn hóa NLĐ ở các KCN đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”. Đề án cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ của từng Bộ ngành và UBND các tỉnh/thành phố trong việc xây dựng đời sống văn hóa của NLĐ ở các KCN gắn với xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao hoạt động thường xuyên, chất lượng, hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế để có được sân chơi lành mạnh và hoạt động thường xuyên cho NLĐ tại các KCN không phải dễ, bởi đầu tư kinh phí để xây dựng, vận hành một sân chơi rất tốn kém và khó có loại hình sân chơi nào có thể thỏa mãn được nhu cầu giải trí của tất cả NLĐ. Vì vậy, việc đáp ứng nhu cầu mới chỉ ở mức hạn chế.

Các chính sách hỗ trợ khác

Ngoài ra, Nhà nước ta cũng có nhiều biện pháp hỗ trợ khác cho NLĐ. Như: chương trình phổ biến giáo dục pháp luật; chương trình bình ổn giá, chính sách xây chợ,… Tuy nhiên những chính sách này không mang tính hệ thống và không đồng đều ở các địa phương. Việc triển khai các chính sách này không hợp lý, NLĐ khó tiếp cận.

Những bất cập trong triển khai chính sách đã hạn chế cơ hội tiếp cận và hưởng thụ các chính sách nhằm nâng cao đời sống cho NLĐ trong các KCN

Nhiều chuyên gia nhận định rằng: mặc dù Nhà nước có nhiều chính sách quan tâm đến đời sống NLĐ, tuy nhiên những nỗ lực này chưa đáp ứng được nhu cầu của NLĐ, đời sống của NLĐ vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc, trong khi thu nhập còn bấp bênh, việc làm chưa ổn định.

Thứ nhất, chính sách mới đáp ứng được một phần nhu cầu của NLĐ ở các KCN. Phần lớn NLĐ trong các KCN vẫn phải sử dụng các dịch vụ do người dân cung cấp, với chất lượng thấp và giá cả không được kiểm soát.

Điều kiện làm việc khó khăn – mức lương không đủ sống. Cường độ làm việc của NLĐ cao (ngành dệt may có số lượng LĐ làm việc vượt thời gian quy định bình quân mỗi người trên 200h/năm, ngành thủy sản và da giầy có cường độ làm việc từ 8-12h/ngày). Trong khi đó thu nhập hiện nay của NLĐ về cơ bản chỉ đủ nuôi sống bản thân (VD: thu nhập bình quân của LĐ tại các KCN Bình Dương năm 2013 là 3.900.000đ). (Nguồn: http://khucongnghiep.com.vn/)

Thứ hai, chính sách chưa hiệu quả, chưa dựa trên nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Điển hình là chính sách nhà ở cho công nhân, các địa phương đã rất nỗ lực nhưng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu. Trong khi đó, các khu nhà ở tập trung cho NLĐ lại không thu hút được NLĐ do điều kiện ăn, ở sinh hoạt không phù hợp với văn hóa, phong cách sống và nhu cầu thật sự của NLĐ.

Thứ ba, các chính sách chưa được đồng bộ, còn vận dụng từ nhiều chính sách chung khác, do vậy các địa phương gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện. Theo các nhà quản lý tại các KCN, chính sách nhà ở cho NLĐ chưa hướng trực tiếp đến đối tượng là người thu nhập thấp (trong đó NLĐ ở KCN). Việc xây dựng các khu dịch vụ và tiện ích công cộng kèm theo còn hạn chế và không đồng bộ; gây nhiều khó khăn cho NLĐ trong quá trình đi lại, dịch vụ y tế, vui chơi giải trí, điện, nước…

Cuối cùng, các chính sách chưa đồng đều tại các tỉnh/thành phố và khu vực. Hầu hết các chính sách hỗ trợ hiện nay mới chỉ tập trung tại một số địa phương có tiềm lực mạnh và chính sách mang tính thí điểm. Chính vì vậy, chưa đánh giá được hiệu quả để qua đó rút kinh nghiệm và nhân rộng, đảm bảo mọi NLĐ trong các KCN đều được tiếp cận đến.

Các biện pháp cải thiện đời sống NLĐ, xây dựng QHLĐ hài hòa

Nhà nước đã có những định hướng nhằm nâng cao tỷ lệ đáp ứng nhu cầu cơ bản về đời sống xã hội của NLĐ trong các KCN.

Bên cạnh việc xác định mục tiêu để hướng tới, những giải pháp cho vấn đề này nên tập trung vào các hướng sau:

- Nâng cao hiệu quả triển khai các chính sách đã ban hành và đang thực hiện theo hướng tiếp cận đáp ứng đúng nhu cầu, nguyện vọng của NLĐ.

- Các hình thức xây dựng theo hướng liên kết giữa DN và sự hỗ trợ của Nhà nước cần phải được chú trọng tăng cường và mở rộng hơn.

- Các dịch vụ của người dân nên chú trọng hơn trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh việc tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện đúng các tiêu chuẩn quy định về nhà ở, nhà trẻ hay các dịch vụ văn  hóa xã hội khác, Nhà nước nói chung và cụ thể hơn là các địa phương cần nghiên cứu hướng hỗ trợ và/hay phối hợp với người dân để nâng cao chất lượng phục vụ cho NLĐ trong các KCN tập trung.

- Bên cạnh đó, các chính sách cũng cần phải được triển khai một cách đồng bộ nhằm đáp ứng tốt hơn và đầy đủ hơn nhu cầu về đời sống xã hội của NLĐ.

NLĐ trong các KCN đang giữ vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế của các địa phương cũng như của đất nước. Tuy nhiên, lợi ích mà NLĐ được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của sự nghiệp đổi mới và những đóng góp của họ. Vì vậy, nâng cao chất lượng và đáp ứng tốt nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho NLĐ trong các KCN là nhiệm vụ ưu tiên của Nhà nước. NLĐ có việc làm ổn định với mức lương ổn định và thỏa mãn hơn. Qua đó xây dựng được mối QHLĐ hài hòa và ổn định góp phần duy trì sự phát triển của DN và ổn định sản xuất, tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển./.

CIRD

 


Warning: file_put_contents(./log/1566513707_3177_497.html) [function.file-put-contents]: failed to open stream: No such file or directory in /home/nhquasp4/cird.gov.vn/footer.php on line 91